GÀ TRỐNG HOA MƠ

Năm 1946, khi thực dân Pháp quay trở lại nhằm chiếm nước ta một lần nữa, quân dân ta theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chiến đấu quyết liệt cầm chân giặc Pháp. Đến năm 1950, khi Mỹ viện trợ quân sự ồ ạt, quân Pháp mới dám mở các cuộc hành quân xuống phía Nam Hà Nội, lấn chiếm tỉnh Hà Nam. Từ đó, dòng sông Đáy thơ mộng trở thành ranh giới phân chia tỉnh Hà Nam thành 2 vùng. Một là, vùng bờ Tây sông Đáy gồm các xã Châu Sơn, Thanh Sơn, Thi Sơn, Quyển Sơn, Khả Phong, Ba Sao kéo đến Đầm Đa, Nho Quan, Xích Thổ Ninh Bình, đến giáp ranh Thanh Hóa lập thành vùng Chiến khu, do lực lượng kháng chiến của Việt Minh quản lý.

Hai là, từ bờ Đông sông Đáy gồm xã Nam Hạ (Duy Tiên) đến Kim Bình (Kim Bảng), thị trấn Quế, xã Đồng Hóa, Đại Cương, Ngọc Sơn lên đến chân núi giáp tỉnh Hà Đông cũ, kéo về chợ Dầu, chợ Đại, Nhật Tựu, Đồng Văn, Đọi (Duy Tiên) là vùng địch hậu do quân Pháp kiểm soát.

Tuy nhiên, tại vùng địch hậu, Đảng Lao Động vẫn bí mật lãnh đạo nhân dân chống phá tề, ngụy, không để thanh niên đi lính cho giặc Pháp. Cả vùng này ai cũng biết tên Nguyễn Khích là một tên trong nhóm bụi đời sống vật vờ trong khu lều tại chợ Hôm. Nguyễn Khích trốn vào bốt Vân Chu, đăng lính bảo hoàng theo Pháp, làm chỉ điểm dẫn quân giặc ở bốt Vân Chu về vây ráp, xục xạo khu Đề Bô là khu pháo đài cũ của Nhật. Pháo đài được đắp đất nổi lên giữa vùng đồng nước nên xa khu dân cư, xung quanh chỉ có lều vịt. Ở đây vắng vẻ, cán bộ kháng chiến thường về đây đào hầm ẩn nấp và tụ họp lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Pháp. Một lần vây xục xạo, quân giặc bật nắp hầm bí mật, bắt được ông Phạm Dậu, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính xã Kim Bình. Sau vụ này, Việt Minh đã cử đội cảm tử do anh Các chỉ huy, về trừ khử tên Khích ác ôn, nhưng Khích ẩn trong bốt Vân Chu nên chưa diệt được. Nhóm ác ôn do Nguyễn Khích cầm đầu có các tên Phạm Thuần, Thị Diễn. Bọn này ủng hộ Lý Khảm, đưa Lý Khảm ra làm Lý trưởng cho Pháp để lập vùng tề, gây ra rất nhiều tội ác, nợ máu với nhân dân.

Việt Minh quyết định giao cho đội cảm tử của anh Các vào thi hành án tử hình Lý Khảm. Đội anh Các bàn kế hoạch diệt Lý Khảm tại đình Lương Đống, đánh hơi được việc này, chúng báo tin cho Lý Khảm trốn vào bốt Ba Đa, dựa vào lính Pháp bảo vệ, che chở. Đội cảm tử của anh Các dùng kế nghi binh, tung tin là đã chuyển vào Ba Sao theo lệnh của Việt Minh. Nguyễn Khích thấy an toàn đã báo cho Lý Khảm về với vợ ở chợ Hôm. Lý Khảm vừa về buổi tối, thì đêm hôm đó đội cảm tử của anh Các xuất hiện, tóm được Lý Khảm, đem treo cổ lên xà nhà rồi kéo cái xác Lý Khảm dọc theo đường mương nước lên Đặng Xá. Đến gần quán mụ Khởi gặp vũng bùn nước trâu đằm thì đẩy xác Lý Khảm xấp mặt xuống vũng bùn, rồi dán bản án Việt Minh xử tử tên phản động lên lưng. Gia đình tôi lúc đó là cơ sở bí mật của Việt Minh, chính tay tôi cùng thày và anh trai tôi đào hầm bí mật dưới nền nhà để nuôi giấu cán bộ cách mạng, cất giấu tài liệu, vũ khí. Mẹ tôi có nghề đỡ đẻ, bà hay đi đây, đi đó lấy cớ là đỡ đẻ nhưng là giao liên, hoạt động trong lòng địch.

Năm đó, tôi 13 tuổi, vào một buổi sáng năm 1953, hai mẹ con tôi đang ngồi nhặt rau ở sân thì có một thanh niên chừng 19, đôi mươi gì đó, chạy hớt hơ hớt hải vào, vừa thở hổn hển vừa nói: “Mẹ ơi, cứu con với, bọn lính phát hiện và đuổi con từ trên đê, con chạy vào chợ Hôm rồi tắt đường giữa làng, luồn từ nhà này sang nhà khác, bọn lính không biết đường nên không đuổi kịp. Chúng nó đuổi đến đình làng rồi, mẹ cho con chỗ ẩn nấp kẻo chúng nó bắt được”. Mẹ tôi ngần ngừ, nhìn anh thanh niên một cách dò xét, vì sợ bọn lính đóng kịch để lừa cơ sở của ta mắc bẫy. Nhưng rồi với kinh nghiệm của người hoạt động lâu năm trong vùng địch hậu, mẹ nhận ra anh thanh niên là người của ta. Mẹ kéo anh thẳng vào buồng, bảo anh thay ngay quần áo ngoài, rồi quăng cho bộ quần áo nâu bạc phếch thợ cầy còn dính bùn đất của thày tôi đang vắt trên sào, bảo anh khoác vào. Mẹ vơ bộ quần áo đen cùng đồ đạc của anh đem cất giấu, rồi ra chuồng gà nhà cô Sáu hàng xóm, thả con gà trống hoa mơ ra, giả vờ gọi to hai anh em ra đuổi bắt con gà hoa mơ sổng chuồng để làm thịt. Con gà sợ cứ chui vào các bó rào tre hòng chui thoát ra vườn. Tôi lao vào vồ gà nhưng bị hụt, lại lao vào chân anh thanh niên làm anh ngã, bị gai tre cào toạc cả mặt, rớm máu, anh ta lấy tay xoa các vết xước, vô tình tay bẩn quệt vào máu làm mặt anh nhem nhuốc. Tên Nguyễn Khích dẫn lính vào đến sân quát hỏi: “Nhà này có ai lạ vào không?”. Mẹ tôi đon đả trả lời: “chỉ có 3 mẹ con tôi đang đuổi bắt con gà xổng chuồng, nhờ các ông đứng chặn ngõ để gà khỏi chạy ra đường.” Con gà cứ quanh quẩn chân bọn lính, một thằng thuận chân đá phốc trúng đầu, con gà lăn quay ra sân, tôi vồ được ôm gọn vào lòng. Mẹ tôi bảo hai anh em đem gà đi cắt tiết kẻo gà chết, thịt bị thâm, không đẹp, không ngon. Cụ Tiếp hàng xóm thấy ồn ào, chạy sang thấy anh em tôi cắt tiết gà, cụ Tiếp với vẻ mặt nghi ngờ cứ nhìn con gà rồi hắng giọng: “gà hoa mơ à?”, tôi đáp “vâng ạ”. Đúng lúc ấy, thằng Cai đi giầy đinh lộp cộp vào hỏi bâng quơ: “có thấy thằng nào chạy qua đây không?”. Mẹ tôi đứng dậy chỉ tay nói “có một người áo đen chạy hướng này”. Thằng cai quát bọn thằng Khích đuổi theo hướng tay mẹ tôi chỉ, bắn súng loạn xạ. Thằng Khích còn quay lại hỏi: “thế thằng đang cắt tiết gà là thằng nào?”. Mẹ tôi bảo, “Anh Khích không nhận ra thằng Xiêm (tên một người anh trai của tôi) cùng chăn trâu với anh, một lần nó để tuột thừng trâu của ông Bá Mục, xông vào đánh trâu của anh, hai con trâu cùng rách mắt. Ông Bá Mục tức quá chửi mắng thằng Xiêm rồi đuổi đi. Nó trốn lên Hà Nội đánh giầy kiếm ăn, nay mới về mà anh Khích không nhận ra à?”. Cụ Tiếp cũng chen vào: “Nó đi đến chục năm rồi, lại lớn bỗng lên thế này, mặt mũi lại nhem nhuốc, anh Khích không nhận ra là phải”. Tên Cai quay lại hỏi: “Nó chạy hướng nào”, mẹ tôi lại chỉ tay: “Nó chạy lên Lương Đống”. Tên Cai quát Khích đuổi theo.

Bọn giặc đi rồi, cụ Tiếp mặt giận dữ, khạc đờm nhổ toẹt, rồi nhìn thẳng mặt mẹ tôi mà nói: “Nhà chị này lạ thật, thịt gà của hàng xóm rồi lại chỉ hướng cho giặc đuổi bắt người ta, liệu chị còn mặt mũi nào sống với dân làng này không?”. Mẹ tôi cãi lại: “Người ta nào, thì người ta vẫn ngồi đây thôi. Tôi chỉ hướng bâng quơ thế cốt đuổi bọn thằng Khích đi cho khuất mắt, để nó đứng đây vặn vẹo rách việc ra”. Cụ Tiếp toan ra về thì mẹ tôi nói: “Hôm nay nhà có giỗ, tôi cho gọi thằng Xiêm về làm giỗ, trưa nay mời cụ sang uống rượu”. Cụ Tiếp có vẻ đã lờ mờ hiểu ra câu chuyện, hắng giọng nhổ phụt đờm rồi về thẳng.

Đến tầm trưa, cụ Tiếp xách cút rượu sang đặt lên bàn thắp nén hương, vái ba vái rồi quay lại, rút trong túi ra hai tờ giấy bạc in hình người gánh dừa, dúi vào tay mẹ tôi và dặn: “chiều con Sáu đi chợ về, nhà chị đưa tiền này cho nó và khéo nói về chuyện gà hoa mơ, đừng để nó tức giận làm ầm lên thì lộ hết chuyện”.

Chiều cô Sáu đi chợ về, vừa đặt gánh xuống, nhìn thấy đám lông gà hoa mơ thì mặt tím lại, hầm hầm tức giận. Mẹ tôi mời cô miếng trầu và nói: “nếu sáng nay không có mẹ con tôi ở nhà thì thằng Khích dẫn lính vào cướp con gà của cô rồi. Nó xách gà ra, mẹ con tôi đòi lại, hai bên giằng co một hồi, tôi gọi ông Cai ơi, lính của ông cướp gà của dân đây này, thằng Cai quay lại, quát Khích thả gà ra, thằng Khích tiếc của chưa chịu thả gà liền bị thằng Cai cho ăn liền hai bạt tai. Thằng Khích tức hộc máu, nó bóp chết con gà rồi quăng vào sân. Tôi chạy đến chỗ ông Cai định mách sự tình, thằng Khích sợ lại bị đòn nên rút ra 2 tờ tiền để đền gà, đây, tiền nó đền đây, cô cầm lấy”. Cô Sáu hiểu ra nói: “em xin lỗi, em cảm ơn bác, không có bác thì em bị mất gà rồi”. Cô Sáu cầm tiền rồi vui vẻ ra về.

Chiều hôm ấy, anh thanh niên xin mẹ ra đi để đuổi kịp đơn vị lên đường chiến đấu. Còn tôi sau đó cũng tìm lên Hà Nội xin việc. Rồi hòa bình lập lại, tôi được đi học và xung phong lên xây dựng khu gang thép Thái Nguyên, dòng đời cứ thế trôi đi, nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua mà chưa có dịp gặp lại anh.

Đến năm 2014, xã Kim Bình được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, tôi về quê cùng bà con đón nhận danh hiệu vinh dự đó.

Thấy tôi đã lâu mới về, dân làng tíu tít hỏi chuyện, có người kể lại, vài năm trước đây, có một anh bộ đội về làng, cứ đứng ở sân nhà anh, gặp ai cũng hỏi tin tức về mẹ và anh. Dân làng cho anh ấy biết, mẹ anh qua đời từ lâu rồi, nhà cửa thì giặc đốt phá, con cái đi làm ăn xa, không còn ai ở quê. Anh bộ đội đỏ hoe mắt, nói rằng thế là anh không còn được gặp mẹ nữa. Anh kể rằng, những năm đi chiến đấu, anh vẫn coi mẹ như mẹ đẻ, anh bị thương rồi bị giặc bắt bỏ tù, đầy ra Côn Đảo, anh vẫn mong có một ngày được về gặp mẹ. Mãi đến khi miền Nam giải phóng, anh được trao trả tù binh về Tây Ninh, anh đã tìm đường ra Bắc với ước mong cháy bỏng được gặp mẹ, người đã cứu anh. Anh kể lại câu chuyện Gà trống hoa mơ và mẹ đã nhanh trí cứu anh như thế nào. Anh vội đi không kịp để lại địa chỉ, tôi biết tìm anh ở đâu trên đất nước Việt Nam rộng lớn thế này.

Năm nay tôi đã 88 tuổi, anh còn nhiều tuổi hơn tôi, quỹ thời gian còn ít lắm. Tôi viết lại câu chuyện này, những mong bằng một phép thần kỳ nào đó, anh biết được, hãy liên lạc với tôi – người đã cùng anh đuổi con gà hoa mơ thuở ấy. Tôi sẽ cùng anh đến thắp nén hương nhân ngày giỗ mẹ 11/4 âm lịch tại khu mộ chi họ Phan Bá, nghĩa trang Tam Thôn xã Kim Bình, Kim Bảng Hà Nam (nay là tổ dân phố Đồng Tiến- phường Phù Vân, tỉnh Ninh Bình). Tôi sẽ kể anh nghe những câu chuyện vui buồn về mẹ, qua bao thăng trầm của cuộc kháng chiến, chịu oan ức và mất trong cải cách ruộng đất, rồi Đảng đã sửa sai…và sẽ dẫn anh về bới căn hầm bí mật năm xưa, dưới nền nhà cháy để tìm lại cây đàn Măng đô lin, túi thuốc cứu thương và bộ quần áo đen của anh. Những kỷ vật này tôi vẫn cất dấu dưới hầm từ ngày đó…

Hà Nội, ngày 26/3/2019.

Phan Văn Hoàn, 88 tuổi, huân chương kháng chiến hạng nhì,

huy hiệu 65 năm tuổi đảng

Địa chỉ: Số 68 A ngõ 61/14 Phùng Chí Kiên- phường Nghĩa Đô- Hà Nội. Đây là câu chuyện có thật, tôi viết trong tình trạng mắt chỉ còn 1/10. Ai biết tin về anh bộ đội xin báo giúp cho cháu Thủy con trai tôi, ĐT 0912.45.00.68,

gia đình tôi xin trân trọng cảm ơn!

Chia sẻ bài viết:

Bài Liên Quan